NHẠC KHÍ BẰNG ĐỒNG LÀ TÍNH TỈ LỆ THIẾC TRONG HỢP KIM...
Nhạc khí bằng đồng là tính tỉ lệ thiếc trong hợp kim.
Nhac sĩ Dương Đình Minh Sơn.
Nhà Dân tộc–Âm nhac học.
Ngày nay, việc chế tạo những hiện vật gia dụng và máy móc cho công nghiệp hiện đại, hoặc cao nhất là loại tên lửa phóng vệ tinh và con tàu lên vũ trụ v.v. thì việc phân định tỉ lệ thành phần hóa học cho từng loại hợp kim được các nhà khoa học tính toán kĩ lưỡng, ghi chép đầy đủ tài liệu khoa học của các nước có ngành công nghiệp tiên tiến. Song ở đây chỉ nói về tỉ lệ hóa học của kim loại thiếc trong hợp kim của loại nhạc cụ bằng đồng mà Trung Quốc đã từng tổng kết lại.
Đái Chấn sách Khảo Công ký ghi: “Kim hữu lục tễ. Lục phân kỳ kim nhi tích cư nhất, vị chi chung đỉnh chi tễ. Ngũ phân kỳ kim nhi tích cư nhất, vị chi phủ cân chi tễ. Tứ phân kỳ kim nhi tích cư nhất, vị chi qua kích chi tễ. Tam phân kỳ kim nhi tích cư nhất, vị chi đại nhẫn chi tễ. Ngũ phân kỳ kim nhi tích cư kỳ nhị , vị chi tước sát thỉ chi tễ. Kim tích bán, vị chi giám toại chi tễ” (1). Nghĩa là: Đồng thau có sáu loại pha chế. Thiếc chiếm một phần sáu hợp kim là loại pha chế chuông đỉnh. Thiếc chiếm một phần năm hợp kim là loại pha chế rìu búa. Thiếc chiếm một phần ba hợp kim là loại pha chế đại đao. Thiếc chiếm hai phần năm hợp kim là loại pha chế dao gọt và đầu mũi tên. Thiếc chiếm một nửa hợp kim là loại pha chế chậu (gương đồng) và đèn.
Tóm tắt lại tỷ lệ kim loại thiếc trong các hợp kim như sau:
- Thiếc chiếm khoảng 17% hợp kim chế tạo chuông đỉnh. Chuông là nhạc khí, đỉnh là đồ thờ.
- Thiếc chiếm khoảng 20% hợp kim, chế tạo rìu búa là công cụ chặt.
- Thiếc chiếm khoảng 25% hợp kim, chế tạo qua kích là vũ khí đâm bổ.
- Thiếc chiếm khoảng 33% hợp kim, chế tạo đại đao là vũ khí to bản để chém.
- Thiếc chiếm khoảng 40 % hợp kim chế tạo dao gọt và đầu mũi tên sắc, bén cứng.
- Thiếc chiếm khoảng 50 % là hợp kim chế tạo gương đồng và đèn, cần độ bóng nhẵn phản quang.
Tính đồng quy kỹ thuật dẫn mọi dân tộc đến những tri thức tương đối giống nhau khi chế tạo các đồ dùng bằng đá, gốm, đồng thau... Nhưng mỗi dân tộc quan tâm một khía cạnh khác nhau. Khảo công ký quan tâm kim loại thiếc vì những sản phẩm của họ liên quan nhiều đến tính chất của thiếc. Đặc tính của thiếc là sắc, cứng, bóng, âm vang, nếu tỷ lệ quá cao sẽ dòn dễ gẫy và bóng lộn loá mắt. Sáu hợp kim của Khảo công ký tăng dần tỷ lệ kim loại thiếc từ 17 - 20 - 25 - 33 - 40 - 50 % trong hợp kim là tùy theo yêu cầu của sản phẩm. Vậy nhiều thiếc nhất (50%) là hợp kim làm gương soi và đèn cần độ bóng phản quang, còn ít thiếc nhất (17%) là hợp kim chế tạo chuông, cần có âm thanh đẹp ngân vang.
Như vậy, căn cứ vào tỉ lệ kim loại thiếc (17%) trong hợp kim thì mới gọi là nhạc khí, vì có âm thanh đẹp- trong trẻo ngân xa. Nhưng trong hợp kim đồng thau chế tác Thần Đồng (trống đồng) của nước ta tỷ lệ kim loại thiếc không bao giờ vuợt quá 1%, cao nhất là 0, 44 % chỉ có một chiếc là 8,77%, chứng tỏ Thần Đồng của Việt Nam không cần một hợp kim chủ yếu để đạt âm thanh đẹp cho một nhạc cụ. Trong khi đó thành phần kim loại chì đạt đến 25 % mà chì làm câm tiếng lại. Để thấy rõ điều này, chúng ta xem hàm lượng kim loại thiếc trong hợp kim của một số Thần Đồng (trống đồng) Đông Sơn loại I Heger.
Diệp Đình Hoa cho biết, các tác giả Văn hoá Đông Sơn ở Việt Nam viết: Có thể nói rằng đa số trống Đông Sơn được đúc từ hợp kim 3 thành phần: đồng, chì, thiếc. Gần 100 mẫu phân tích quang phổ và hoá học lấy từ các trống khác nhau, nằm rải rác trên khắp miền đất nước đã cho biết như vậy. Điều này chứng minh cho tính chất ổn định trong kỹ thuật pha chế nguyên liệu đúc Thần Đồng (2)
Nhà Dân tộc–Âm nhac học.
Ngày nay, việc chế tạo những hiện vật gia dụng và máy móc cho công nghiệp hiện đại, hoặc cao nhất là loại tên lửa phóng vệ tinh và con tàu lên vũ trụ v.v. thì việc phân định tỉ lệ thành phần hóa học cho từng loại hợp kim được các nhà khoa học tính toán kĩ lưỡng, ghi chép đầy đủ tài liệu khoa học của các nước có ngành công nghiệp tiên tiến. Song ở đây chỉ nói về tỉ lệ hóa học của kim loại thiếc trong hợp kim của loại nhạc cụ bằng đồng mà Trung Quốc đã từng tổng kết lại.
Đái Chấn sách Khảo Công ký ghi: “Kim hữu lục tễ. Lục phân kỳ kim nhi tích cư nhất, vị chi chung đỉnh chi tễ. Ngũ phân kỳ kim nhi tích cư nhất, vị chi phủ cân chi tễ. Tứ phân kỳ kim nhi tích cư nhất, vị chi qua kích chi tễ. Tam phân kỳ kim nhi tích cư nhất, vị chi đại nhẫn chi tễ. Ngũ phân kỳ kim nhi tích cư kỳ nhị , vị chi tước sát thỉ chi tễ. Kim tích bán, vị chi giám toại chi tễ” (1). Nghĩa là: Đồng thau có sáu loại pha chế. Thiếc chiếm một phần sáu hợp kim là loại pha chế chuông đỉnh. Thiếc chiếm một phần năm hợp kim là loại pha chế rìu búa. Thiếc chiếm một phần ba hợp kim là loại pha chế đại đao. Thiếc chiếm hai phần năm hợp kim là loại pha chế dao gọt và đầu mũi tên. Thiếc chiếm một nửa hợp kim là loại pha chế chậu (gương đồng) và đèn.
Tóm tắt lại tỷ lệ kim loại thiếc trong các hợp kim như sau:
- Thiếc chiếm khoảng 17% hợp kim chế tạo chuông đỉnh. Chuông là nhạc khí, đỉnh là đồ thờ.
- Thiếc chiếm khoảng 20% hợp kim, chế tạo rìu búa là công cụ chặt.
- Thiếc chiếm khoảng 25% hợp kim, chế tạo qua kích là vũ khí đâm bổ.
- Thiếc chiếm khoảng 33% hợp kim, chế tạo đại đao là vũ khí to bản để chém.
- Thiếc chiếm khoảng 40 % hợp kim chế tạo dao gọt và đầu mũi tên sắc, bén cứng.
- Thiếc chiếm khoảng 50 % là hợp kim chế tạo gương đồng và đèn, cần độ bóng nhẵn phản quang.
Tính đồng quy kỹ thuật dẫn mọi dân tộc đến những tri thức tương đối giống nhau khi chế tạo các đồ dùng bằng đá, gốm, đồng thau... Nhưng mỗi dân tộc quan tâm một khía cạnh khác nhau. Khảo công ký quan tâm kim loại thiếc vì những sản phẩm của họ liên quan nhiều đến tính chất của thiếc. Đặc tính của thiếc là sắc, cứng, bóng, âm vang, nếu tỷ lệ quá cao sẽ dòn dễ gẫy và bóng lộn loá mắt. Sáu hợp kim của Khảo công ký tăng dần tỷ lệ kim loại thiếc từ 17 - 20 - 25 - 33 - 40 - 50 % trong hợp kim là tùy theo yêu cầu của sản phẩm. Vậy nhiều thiếc nhất (50%) là hợp kim làm gương soi và đèn cần độ bóng phản quang, còn ít thiếc nhất (17%) là hợp kim chế tạo chuông, cần có âm thanh đẹp ngân vang.
Như vậy, căn cứ vào tỉ lệ kim loại thiếc (17%) trong hợp kim thì mới gọi là nhạc khí, vì có âm thanh đẹp- trong trẻo ngân xa. Nhưng trong hợp kim đồng thau chế tác Thần Đồng (trống đồng) của nước ta tỷ lệ kim loại thiếc không bao giờ vuợt quá 1%, cao nhất là 0, 44 % chỉ có một chiếc là 8,77%, chứng tỏ Thần Đồng của Việt Nam không cần một hợp kim chủ yếu để đạt âm thanh đẹp cho một nhạc cụ. Trong khi đó thành phần kim loại chì đạt đến 25 % mà chì làm câm tiếng lại. Để thấy rõ điều này, chúng ta xem hàm lượng kim loại thiếc trong hợp kim của một số Thần Đồng (trống đồng) Đông Sơn loại I Heger.
Diệp Đình Hoa cho biết, các tác giả Văn hoá Đông Sơn ở Việt Nam viết: Có thể nói rằng đa số trống Đông Sơn được đúc từ hợp kim 3 thành phần: đồng, chì, thiếc. Gần 100 mẫu phân tích quang phổ và hoá học lấy từ các trống khác nhau, nằm rải rác trên khắp miền đất nước đã cho biết như vậy. Điều này chứng minh cho tính chất ổn định trong kỹ thuật pha chế nguyên liệu đúc Thần Đồng (2)
Một số mẫu phân tích hợp kim trống đồng: Ta thấy trống loại I Heger có hàm lượng đồng biến thiên trong khoảng 43-81%; còn chì 2-26%; thiếc 0,1-50% (lấy số tròn). Còn trống loại II Héger thì hàm lượng đồng biến thiên trong khoảng 60-70%; chì 11-15%, thiếc 0,10-0,30%, tương đối ổn định. Còn trống loại III Heger thì xét nghiệm còn quá ít, tuy vậy cũng nhận thấy hàm lượng chì khoảng 20% cũng khá cao (3).
Kết luận : Hợp kim trống đồng loại I Heger có hàm lượng chì cao 25% nhằm điền đầy hoạ tiết trang trí, còn trống đồng loại II hàm lượng chì từ 11-15 %, vì trống đồng loại II Heger ít hoa văn trang trí. Điều đó, chứng tỏ tiền nhân quan tâm tạo ra một tác phẩm nghệ thuật trang trí hoa văn để làm "vật linh" Biểu chương vương quyền chứ không phải quan tâm tạo ra một nhạc cụ thuộc bộ gõ bằng đồng (trống đồng) cho nên không quan tâm đến tỷ lệ thiếc. Còn số trống đồng mới đúc ngày nay vẫn có tiếng kêu, nhưng đó là tiếng kẻng của thanh tà vẹc. Không thể nói đó là âm thanh của một nhạc khí (D.Đ.M.S). Bài trích ở sách Giải mã biểu tượng văn hóa Nỏ Nường cùng tác giả N.x.b Đại học quốc gia phát hành Quý I -2017.
Bài sau: Sự ra đời của thuật ngữ “đồng cổ” (trống đồng).
Kết luận : Hợp kim trống đồng loại I Heger có hàm lượng chì cao 25% nhằm điền đầy hoạ tiết trang trí, còn trống đồng loại II hàm lượng chì từ 11-15 %, vì trống đồng loại II Heger ít hoa văn trang trí. Điều đó, chứng tỏ tiền nhân quan tâm tạo ra một tác phẩm nghệ thuật trang trí hoa văn để làm "vật linh" Biểu chương vương quyền chứ không phải quan tâm tạo ra một nhạc cụ thuộc bộ gõ bằng đồng (trống đồng) cho nên không quan tâm đến tỷ lệ thiếc. Còn số trống đồng mới đúc ngày nay vẫn có tiếng kêu, nhưng đó là tiếng kẻng của thanh tà vẹc. Không thể nói đó là âm thanh của một nhạc khí (D.Đ.M.S). Bài trích ở sách Giải mã biểu tượng văn hóa Nỏ Nường cùng tác giả N.x.b Đại học quốc gia phát hành Quý I -2017.
Bài sau: Sự ra đời của thuật ngữ “đồng cổ” (trống đồng).
Chú thích.
1. Đái Chấn. Khảo công ký đồ (chữ Hán). Thượng Hải 1956 tr 39. Dẫn theo Nguyễn Duy Hinh Trống đồng quốc bảo Việt Nam, N.x.b Khoa học xã hội 2001, tr 47.
2=3. Diệp Đình Hoa, Qua thành phần hóa học của những chiếc trống cổ Việt Nam . Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1981 tr 167. Dẫn theo Nguyễn Duy Hinh Trống đồng quốc bảo Việt Nam, N.x.b Khoa học xã hội 2001, tr 42.
1. Đái Chấn. Khảo công ký đồ (chữ Hán). Thượng Hải 1956 tr 39. Dẫn theo Nguyễn Duy Hinh Trống đồng quốc bảo Việt Nam, N.x.b Khoa học xã hội 2001, tr 47.
2=3. Diệp Đình Hoa, Qua thành phần hóa học của những chiếc trống cổ Việt Nam . Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1981 tr 167. Dẫn theo Nguyễn Duy Hinh Trống đồng quốc bảo Việt Nam, N.x.b Khoa học xã hội 2001, tr 42.

Nhận xét
Đăng nhận xét