THUẬT NGỮ DANH XƯNG TỘC NGƯỜI
Thuật nghữ Danh xưng Tộc người.
(Bài trích ở sách Giải mã biểu ngjvawn hóa Nỏ Nường N.x.b. Đại học
Quốc gia Hà Nội thực hiện, phát hành 7/ 2017 )
Thuật ngữ Danh xưng Tộc người thì chỉ có một. Như ở nước ta có các dân tộc: Thái, Hà Nhì, Mường …, hoặc có thêm tộc danh phụ là cùng; ngay ở Trung Quốc dân tộc đa số là dân tộc Hán. Nhưng ở Việt Nam, dân tộc đa số thì đến sáu danh xưng:
Người Kinh
Người Văn Lang.
Người Giao chi
Người Lạc Viêt
Người Việt
Người Việt Cổ.
Quốc gia Hà Nội thực hiện, phát hành 7/ 2017 )
Thuật ngữ Danh xưng Tộc người thì chỉ có một. Như ở nước ta có các dân tộc: Thái, Hà Nhì, Mường …, hoặc có thêm tộc danh phụ là cùng; ngay ở Trung Quốc dân tộc đa số là dân tộc Hán. Nhưng ở Việt Nam, dân tộc đa số thì đến sáu danh xưng:
Người Kinh
Người Văn Lang.
Người Giao chi
Người Lạc Viêt
Người Việt
Người Việt Cổ.
Theo chúng tôi đó là Danh xưng người Kinh và xin lý giải như sau.
1.1 . Người Kinh .
Đã có ý cho rằng, vấn đề nguồn gốc của khái niệm tộc danh Kinh đã trải qua nhiều tranh luận khoa học, nhưng chưa đi đến kết luận khoa học(1). Nhưng chúng tôi (D.Đ.M.S.) trong khi điền dã ở các vùng, qua trao đổi, thẩm thức mà nhận ra thuật ngữ tộc danh Kinh như sau:
“Người Kinh” hay “dân Tộc Kinh” là thuật ngữ ra đời đầu tiên của dân tộc ta, do dân tộc khác ở bên cạnh gọi, khi họ thấy dân tộc ta dùng vỏ cây “kinh” làm áo che thân: dùng dao (bằng đá), cạy vỏ cây kinh ra, trải phẳng, gấp đôi lại; khoét một lỗ ở chổ gấp đôi làm cổ áo, để chui đầu vào rồi gấp lại, một nửa làm thân áo đàng trước, một nửa làm thân áo đàng sau, hai bên nách dùng dây buộc lại. Từ đó, dân tộc ta cũng tự nhận tộc danh của mình là Kinh (vỏ cây kinh ngày nay vẫn còn được dân tộc ta dùng, đập dập ra lấy sợi chằm tơi, chằm nón và chiếc áo ngắn 2 thân, cổ viền, không tay ở ta ngày nay vẫn còn, nhưng phổ biến là ở người Tàu làm áo ấm khoác ngoài áo dài).
Về cứ liệu thư tịch, sách Các triều đại Việt Nam ghi: “…Thời ấy lấy vỏ cây làm áo, bện cỏ làm chiếu, lấy nước nhựa cây làm rượu, lấy bột cây quang lang làm cơm (tức cây đao, thân to như cây cọ), lấy cầm thú ngư trùng làm mắm, lấy rễ gừng làm muối. Cày bằng dao, cắt bằng lửa , làm cơm nếp bằng ống tre, gác cây làm nhà sàn, cắt ngắn tóc để đi trong rừng cho tiện, khi có người chết thì lấy cối chày không ra mà giã để báo tin cho hàng xóm, trai gái lấy nhau chưa dùng trầu cau mà lấy phong muối làm lễ ăn hỏi…(2) Ngày nay, trong kê khai lý lịch chúng ta đều ghi là dân tộc: Kinh mà không ghi dân tộc: Việt hoặc dân tộc: Giao Chỉ, còn trong văn chương khi ghi dân tộc Việt thì chua thêm chữ Kinh trong ngoặc đơn, như dân tộc Việt (Kinh). Vậy đân tộc Kinh là tên danh xưng chính, đầu tiên của dân tộc ta.
2 .2.Người LạcViệt.
a.Lạc là ruộng- Lạc điền; Lạc là chim Lạc. Người Lạc lấy chim đặt tên “Lạc” làm vật Tổ (totem) cho nên trong các dịp hội hè, nam giới dùng 2 hoặc 4 lông chim cài trên đầu biểu tượng cho đấng hiệp sĩ và phụ nữ cài 2 hoặc 4 lông chim trên đầu biểu tượng cho giới quý tộc. Đó là đặc điểm của Người Lạc Việt. (xem 23 tr…).
b. Việt là cái rìu xéo của người Lạc- thời kì người Lạc ở bờ Nam sông Dương Tử đã biết kĩ thuật đúc đồng thau. Người Hán đang trong thời kì sáng tạo chữ viết tượng hình, họ dựa theo hình cái rìu xéo của người Lạc tạo nên một chữ gọi là chữ Việt. Rồi từ đó họ gọi những cư dân ở phía Nam sông Dương Tử là dòng Việt tộc- Bách Việt. Dân tộc ta tên Lạc có thêm từ Việt từ đó (3) . Tuy nhiên cứ liệu ở đây lại cho cái rìu xéo là của cư dân sống ở bờ Nam sông Dương Tử chứ không phải của dân tộc Kinh Tổ tiên chúng ta sống ở châu thổ sông Hồng. Đó là sự nhầm lẫn.
2.3. Người Văn Lang:
Dân tộc Lạc Việt có tục xăm những hoa văn trên mình, để khi lặn xuống nước không bị loài thuồng luồng (cá xấu) sát hại. Người Hán thấy những hoa “văn” xăm trên mình ấy thì gọi là người Văn Lang:Văn là văn hiến, Lang là tên ..Người Văn Lang là từ dân tộc Kinh đến cuối đời Hùng Vương.(4) .
2.4. Giao Chỉ.
Giao là gần kề. Tức là lãnh địa kề cạnh. hoặc là lãnh địa có loài giao long ở dưới vực sâu.
Chỉ là địa chỉ-lãnh địa gần kề- tộc người sống kề biên giới với người Hán.
Nhưng có ý cho rằng, người Trung Quốc có bao nhiêu tộc người ở gần kề, sao chỉ có người Vệt Nam gọi là người Giao chỉ ?
Xin thưa. Nếu các dân tộc gần kề ấy đều được người Hán gọi là Giao Chỉ cả thì làm sao mà phân biệt được. Cũng như trong một gia đình có mười người con, nhưng không ai lại chỉ đặt một tên. Vậy, tên Giao Chỉ mà người Tàu gọi tên danh xưng cho dân tộc ta là có thật.
2.5. Người Việt .
Khái niệm Việt là một tộc danh, về mặt kí tự, văn bản có lịch sử xa xưa hơn nhiều. Trong văn giáp cốt kí tự Việt được dùng để chỉ những tộc người xa lạ với vùng Trung Nguyên sống ở vùng hạ lưu sông Trường Giang. Kí hiệu Việt được viết như một vũ khí. Theo ngôn ngữ của khảo cổ học, đó là những chiếc rìu bôn có vai; còn về mặt dân tộc học, những công cụ có vai này hiện vẫn còn được cư dân đồng bằng Sông Hồng sử dụng với những tên gọi như: mai, mống, vòi (5).
2.6 . Người Việt Cổ.
Thuật ngữ này chưa có nhiều trong Từ điển và cổ sử, nó mới xuất hiện gần đây để chỉ người Lạc Việt –Việt Nam.Vì thế, khi gọi Người Việt Cổ - tức là có người Việt mới. Cho nên có ý cho rằng người Việt Cổ chủ nhân của nền Văn minh Đông Sơn –tầng văn hía thứ nhất đã di cư sang các quần đảo ở Đông Nam Á, như dân tộc Đack Mã Lai, còn tầng văn hóa Đông Sơn thứ hai là do người Thái sáng tạo.( ).
Qua sáu thuật ngữ Danh xưng tộc người vừa dẫn, nên chăng chúng ta cần gọi một tên Danh xưng là “dân tộc KINH”. Vì trong các hồ sơ kê khai của cá nhân, ở điểm, Dân tộc được ghi là: “Kinh”, hoặc trong văn chương khi ghi người Việt thì mở ngoặc đơn Kinh. Chẳng hạn, ở Việt Nam dân tộc Việt (Kinh).Vậy chúng ta là dân tộc Kinh ở Việt Nam cũng như dân tộc Hán ở Trung Quốc.
1.1 . Người Kinh .
Đã có ý cho rằng, vấn đề nguồn gốc của khái niệm tộc danh Kinh đã trải qua nhiều tranh luận khoa học, nhưng chưa đi đến kết luận khoa học(1). Nhưng chúng tôi (D.Đ.M.S.) trong khi điền dã ở các vùng, qua trao đổi, thẩm thức mà nhận ra thuật ngữ tộc danh Kinh như sau:
“Người Kinh” hay “dân Tộc Kinh” là thuật ngữ ra đời đầu tiên của dân tộc ta, do dân tộc khác ở bên cạnh gọi, khi họ thấy dân tộc ta dùng vỏ cây “kinh” làm áo che thân: dùng dao (bằng đá), cạy vỏ cây kinh ra, trải phẳng, gấp đôi lại; khoét một lỗ ở chổ gấp đôi làm cổ áo, để chui đầu vào rồi gấp lại, một nửa làm thân áo đàng trước, một nửa làm thân áo đàng sau, hai bên nách dùng dây buộc lại. Từ đó, dân tộc ta cũng tự nhận tộc danh của mình là Kinh (vỏ cây kinh ngày nay vẫn còn được dân tộc ta dùng, đập dập ra lấy sợi chằm tơi, chằm nón và chiếc áo ngắn 2 thân, cổ viền, không tay ở ta ngày nay vẫn còn, nhưng phổ biến là ở người Tàu làm áo ấm khoác ngoài áo dài).
Về cứ liệu thư tịch, sách Các triều đại Việt Nam ghi: “…Thời ấy lấy vỏ cây làm áo, bện cỏ làm chiếu, lấy nước nhựa cây làm rượu, lấy bột cây quang lang làm cơm (tức cây đao, thân to như cây cọ), lấy cầm thú ngư trùng làm mắm, lấy rễ gừng làm muối. Cày bằng dao, cắt bằng lửa , làm cơm nếp bằng ống tre, gác cây làm nhà sàn, cắt ngắn tóc để đi trong rừng cho tiện, khi có người chết thì lấy cối chày không ra mà giã để báo tin cho hàng xóm, trai gái lấy nhau chưa dùng trầu cau mà lấy phong muối làm lễ ăn hỏi…(2) Ngày nay, trong kê khai lý lịch chúng ta đều ghi là dân tộc: Kinh mà không ghi dân tộc: Việt hoặc dân tộc: Giao Chỉ, còn trong văn chương khi ghi dân tộc Việt thì chua thêm chữ Kinh trong ngoặc đơn, như dân tộc Việt (Kinh). Vậy đân tộc Kinh là tên danh xưng chính, đầu tiên của dân tộc ta.
2 .2.Người LạcViệt.
a.Lạc là ruộng- Lạc điền; Lạc là chim Lạc. Người Lạc lấy chim đặt tên “Lạc” làm vật Tổ (totem) cho nên trong các dịp hội hè, nam giới dùng 2 hoặc 4 lông chim cài trên đầu biểu tượng cho đấng hiệp sĩ và phụ nữ cài 2 hoặc 4 lông chim trên đầu biểu tượng cho giới quý tộc. Đó là đặc điểm của Người Lạc Việt. (xem 23 tr…).
b. Việt là cái rìu xéo của người Lạc- thời kì người Lạc ở bờ Nam sông Dương Tử đã biết kĩ thuật đúc đồng thau. Người Hán đang trong thời kì sáng tạo chữ viết tượng hình, họ dựa theo hình cái rìu xéo của người Lạc tạo nên một chữ gọi là chữ Việt. Rồi từ đó họ gọi những cư dân ở phía Nam sông Dương Tử là dòng Việt tộc- Bách Việt. Dân tộc ta tên Lạc có thêm từ Việt từ đó (3) . Tuy nhiên cứ liệu ở đây lại cho cái rìu xéo là của cư dân sống ở bờ Nam sông Dương Tử chứ không phải của dân tộc Kinh Tổ tiên chúng ta sống ở châu thổ sông Hồng. Đó là sự nhầm lẫn.
2.3. Người Văn Lang:
Dân tộc Lạc Việt có tục xăm những hoa văn trên mình, để khi lặn xuống nước không bị loài thuồng luồng (cá xấu) sát hại. Người Hán thấy những hoa “văn” xăm trên mình ấy thì gọi là người Văn Lang:Văn là văn hiến, Lang là tên ..Người Văn Lang là từ dân tộc Kinh đến cuối đời Hùng Vương.(4) .
2.4. Giao Chỉ.
Giao là gần kề. Tức là lãnh địa kề cạnh. hoặc là lãnh địa có loài giao long ở dưới vực sâu.
Chỉ là địa chỉ-lãnh địa gần kề- tộc người sống kề biên giới với người Hán.
Nhưng có ý cho rằng, người Trung Quốc có bao nhiêu tộc người ở gần kề, sao chỉ có người Vệt Nam gọi là người Giao chỉ ?
Xin thưa. Nếu các dân tộc gần kề ấy đều được người Hán gọi là Giao Chỉ cả thì làm sao mà phân biệt được. Cũng như trong một gia đình có mười người con, nhưng không ai lại chỉ đặt một tên. Vậy, tên Giao Chỉ mà người Tàu gọi tên danh xưng cho dân tộc ta là có thật.
2.5. Người Việt .
Khái niệm Việt là một tộc danh, về mặt kí tự, văn bản có lịch sử xa xưa hơn nhiều. Trong văn giáp cốt kí tự Việt được dùng để chỉ những tộc người xa lạ với vùng Trung Nguyên sống ở vùng hạ lưu sông Trường Giang. Kí hiệu Việt được viết như một vũ khí. Theo ngôn ngữ của khảo cổ học, đó là những chiếc rìu bôn có vai; còn về mặt dân tộc học, những công cụ có vai này hiện vẫn còn được cư dân đồng bằng Sông Hồng sử dụng với những tên gọi như: mai, mống, vòi (5).
2.6 . Người Việt Cổ.
Thuật ngữ này chưa có nhiều trong Từ điển và cổ sử, nó mới xuất hiện gần đây để chỉ người Lạc Việt –Việt Nam.Vì thế, khi gọi Người Việt Cổ - tức là có người Việt mới. Cho nên có ý cho rằng người Việt Cổ chủ nhân của nền Văn minh Đông Sơn –tầng văn hía thứ nhất đã di cư sang các quần đảo ở Đông Nam Á, như dân tộc Đack Mã Lai, còn tầng văn hóa Đông Sơn thứ hai là do người Thái sáng tạo.( ).
Qua sáu thuật ngữ Danh xưng tộc người vừa dẫn, nên chăng chúng ta cần gọi một tên Danh xưng là “dân tộc KINH”. Vì trong các hồ sơ kê khai của cá nhân, ở điểm, Dân tộc được ghi là: “Kinh”, hoặc trong văn chương khi ghi người Việt thì mở ngoặc đơn Kinh. Chẳng hạn, ở Việt Nam dân tộc Việt (Kinh).Vậy chúng ta là dân tộc Kinh ở Việt Nam cũng như dân tộc Hán ở Trung Quốc.
Chú thích.
1. Diệp Đình Hoa, Người Việt vùng đồng bằng Bắc bộ, N,x.b Khoa học xã hội Hà Nội 2000, tr 38.
2. Quỳnh Cư- Hồ Đức Hùng, Các Triều đại Việt Nam, N.X.B Thanh Niên 2000, tr 12.
3.Trần Quang Trân, Nghiên cứu về Việt Nam trước Công Nguyên, Nx.b Thanh Niên, 2001 tr 29-30 (chú, là dẫn tư liệu của T.S. Trần Ngọc Thêm).
4.Lê Văn Siêu. “Việt Nam văn minh sử”, N.x.b Lao Động 2003 tr 7.
5. Diệp Đình Hoa, s.đ.d tr 38-39.
1. Diệp Đình Hoa, Người Việt vùng đồng bằng Bắc bộ, N,x.b Khoa học xã hội Hà Nội 2000, tr 38.
2. Quỳnh Cư- Hồ Đức Hùng, Các Triều đại Việt Nam, N.X.B Thanh Niên 2000, tr 12.
3.Trần Quang Trân, Nghiên cứu về Việt Nam trước Công Nguyên, Nx.b Thanh Niên, 2001 tr 29-30 (chú, là dẫn tư liệu của T.S. Trần Ngọc Thêm).
4.Lê Văn Siêu. “Việt Nam văn minh sử”, N.x.b Lao Động 2003 tr 7.
5. Diệp Đình Hoa, s.đ.d tr 38-39.
Nhận xét
Đăng nhận xét